Sơn Tây và thành Sơn Tây cuối thế kỷ XIX

(nguoiontay.com) (Theo ghi nhận của một chiến binh Pháp) Gần đây,sau sự kiện thành nhà Mạc ở Tuyên Quang bị biến thành lò gạch ,Ô quan chưởng ở Hà Nội được “mông má lại” trông không giống ai.lại nghe tin thành cổ Sơn Tây cũng đang bị “các nhà trùng tu” đưa lên “thớt” mặc dù cách đây không lâu một cổng thành cổ Sơn Tây cũng đã từng bị biến thành “lò gạch”.Có tờ báo đã kêu lên rằng “lại một lần nữa thành cổ Sơn Tây thất thủ !”Lời kêu cứu cất lên vào lúc này là cần thiết vì không biết sau một lần trùng tu nữa thì thành cổ Sơn Tây sẽ ra cái giống gì ? Để các bạn tham khảo VanVn.Net xin trrân trọng giới thiệu một bài viết của một chiến binh Pháp từng một lần được chiêm ngưỡng thành cổ Sơn Tây khi nó còn đang giữ được những dáng vẻ ban đầu của nó.

Toàn cảnh thành Sơn Tây (Nguồn: Une campagne au Tonkin, D.Hocquard.)

Charles-Edouard Hocquard (1853-1911), bác sĩ quân y đồng thời là một nhà nhiếp ảnh tham gia chiến dịch ở Bắc và Trung kỳ của quân Viễn chinh Pháp từ ngày 11 tháng giêng năm 1884 đến ngày 31 tháng 5 năm 1886. Trong suốt thời gian phục vụ chiến dịch, bác sĩ Hocquard đã ghi chép tỉ mỉ những gì mà ông ta được nghe, được thấy từ nhà cửa, đời sống của nông dân, quan lại, đến thuật y-dược phương Đông, phong cảnh tự nhiên, phong tục tập quán cũng như các hiện tượng xã hội… kèm theo nhiều hình ảnh minh hoạ sống động tập hợp thành một công trình có tiêu đềChiến dịch Bắc kỳ (Une Campagne au Tonkin). Trong Chiến dịch Bắc kỳ có đoạn miêu tả cảnh quan khu vực thị xã Sơn Tây và thành cổ Sơn Tây ngày nay khá tỉ mỉ, chi tiết, với lối văn tả thực sắc sảo khiến người đọc có một sức hấp dẫn như chính mình đang được tham quan quang cảnh, các đường phố, chiến luỹ Phù Sa, thành Sơn Tây và được tận mắt xem những con voi to khoẻ của Tổng đốc Sơn Tây… ở thời điểm sau khi thành Sơn Tây bị thất thủ khoảng 3 đến 4 tháng (8/4/1884).

Chúng tôi trân trọng giới thiệu một phần viết về khu vực thị xã Sơn Tây và thành cổ Sơn Tây trong Chiến dịch Bắc kỳ do Nguyễn Văn Trường, công tác tại Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội trích dịch lấy tiêu đề “Sơn Tây và thành Sơn Tây cuối thế kỷ XIX theo ghi nhận của một chiến binh Pháp”.

… Chúng tôi vào Sơn Tây phải qua một cổng vòm lớn. Bốn cổng vào thành phố được xây giống nhau đặt theo bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Bao quanh thành phố là tường đất và hào rộng đầy nước. Ở phía ngoài, một rẻo đất ngăn cách tường đất và hào nước, trên rẻo đất đó có trồng dày đặc tre làm hàng rào. Hàng rào cao hơn tường khoảng một hoặc hai mét che chắn cho các lỗ châu mai bố trí trên tường. Các lỗ châu mai này có hai loại: một loại nhỏ, vuông được dùng cho các tay súng lính tập núp bắn, loại kia lớn hơn, hình chữ nhật để dành cho đại bác. Hơn một trăm họng súng đủ các loại lớn nhỏ đã bảo vệ thành phố này khi Đô đốc Cuốc-Bê (Courbet) tấn công: hầu hết các loại súng này đều phải nạp đạn qua nòng súng; nhiều khẩu pháo nhỏ bằng gang vẫn còn đặt nguyên tại chỗ trên bức tường thành, vì đã bị chốt chặt vào bệ.

Từ bốn cổng của thành phố là bốn phố lớn hướng về thành nội[1]. Những ngôi nhà lá được cất lên ở hai bên những phố này trông giống như ở Bắc Ninh. Thỉnh thoảng có một vài ngôi nhà xây bằng gạch theo kiểu người Hoa xen kẽ với các ngôi nhà lá, chủ yếu là khu vực xung quanh thành nội.

Đường phố đẹp nhất Sơn Tây là phố hướng ra phía sông Hồng. Hầu hết mọi việc buôn bán của thành phố đều diễn ra trên đường phố này. Trước chiến tranh, Sơn Tây có gần hai vạn dân. Người dân nới đây buôn bán nhiều mặt hàng như tơ lụa, đồ gốm, thuốc lào và trầu cau. Ngày nay, thành phố đã thu hẹp đi nhiều, chỉ còn gần năm nghìn dân. Việc buôn bán chỉ còn duy nhất mặt hàng thực phẩm và các nhu yếu phẩm cho binh lính của chúng ta.

Thành nội Sơn Tây nằm giữa trung tâm thành phố, cách sông Hồng khoảng hai cây số. Thành có kiểu hình vuông, mỗi cạnh dài năm trăm mét. Một bức tường bao quanh, xây gạch cao năm mét. Một cái hào đầy nước rộng khoảng hai mươi mét bao quanh thành lũy, hết hào nước là một con đường để đi tuần tra, ngăn cách giữa hào nước với tường thành. Những người An Nam gọi đường đó là đường Voi (tượng đạo, đường để voi đi).

Ở giữa bề mặt của mỗi bức tường thành có một nửa tháp, hình bán nguyệt, đường kính ba mươi mét, bố trí nhiều lỗ châu mai. Cửa ra vào thành được đặt bên sườn tháp bán nguyệt tại điểm tiếp giáp với tường thành. Cây cầu bằng gạch bắc qua hào nước, không được bố trí ngay trước cửa ra vào mà được xây dựng vào khoảng giữa tháp. Đó là kiểu bố trí thông minh về phương diện phòng thủ: sau khi những kẻ tấn công qua được cầu, mà lối lên cầu có một cửa làm bằng những thanh gỗ lớn chắn ngang, bắt buộc họ phải men theo bức tường bán nguyệt của tháp bằng đường Voi trước khi đến được cửa thành. Họ có thể bị những người đứng trên tường thành giết chết ở cự ly gần mà hầu như không thể chống trả được.

Trong ruột tường thành được bồi thêm đất ụ, tiết diện tường thành rộng mười mét, có thể đi lên mặt tường thành dễ dàng bằng sườn thoai thoải bên trong của tường thành. Trên mặt tường thành có bố trí nhiều ụ pháo và nhiều chòi canh gác. Bên trong, giữa thành có một tháp cao mười tám mét. Còn lại là vọng cung, nhà ở của các quan tỉnh và kho lương. Phía trước tháp, có hai bể nước lớn hình vuông xung quanh xây gạch và lan can bảo vệ. Theo người ta nói lại, trước đây một bể chứa nước để dùng cho quân đồn trú, còn một bể để nuôi cá phục vụ bữa ăn cho Lưu Vĩnh Phước, chủ tướng quân Cờ Đen.

Ở trên đỉnh tháp, với những tấm lợp nhẹ do người của chúng ta dựng lên một cái chòi để che chắn máy móc điện tín. Các máy này có thể liên lạc được với Hà Nội qua một trạm trung gian được thiết lập tại chợ Palang (Phùng) khoảng giữa hai thành phố.

Tháp trung tâm thành Sơn Tây

Tháp trung tâm thành Sơn Tây (Nguồn: Une campagne au Tonkin, D.Hocquard)

Cửa đi vào bên trong tháp đang mở, tôi lên trên đó để xem. Bên trong tháp có một cầu thang xoáy trôn ốc với khoảng năm mươi bậc bằng đá tảng. Cầu thang này được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời qua những cửa sổ tròn nhỏ, làm cho người ta có cảm giác như đang chèo lên tháp chuông nhà thờ ở làng xã chúng ta.

Ở độ cao này, người ta có thể thấy được toàn cảnh tuyệt đẹp. Thành phố Sơn Tây được dồn lại dưới chân tháp, lúp xúp những mái nhà tranh bé nhỏ, bốn đường phố thẳng tắp hướng vào thành giống như các nhánh chữ thập. Một trong những đường phố ấy mọc lên hai bên những mái nhà dài, thấp và nhấp nhô tám kho gạo dẫn vào vọng cung. Vọng cung nổi bật hẳn lên với hình bốn cạnh, mái hai tầng uốn cong, phần nhô ra được trang trí bằng những quái vật đầu sư tử mặt nhăn nhó ghép bằng những mảnh sứ xanh lơ gắn xi-măng. Vọng cung trông ra một sân rộng vuông vức, lát bằng những phiến đá rộng, mài nhẵn. Lối vào sân có hai con sư tử được tạc với kích thước lớn như thật, đang đứng vươn mình trên những khối đá hoa cương màu xám trông rất đẹp. Để vào sân, người ta phải đi qua một hàng hiên đồ sộ hai tầng mái có trổ ba cửa và những gác chuông nhỏ cũng được trang trí nhiều hình tượng khác nhau bằng các mảnh sứ xanh lơ giống như một ngôi chùa.

Nhìn xuống chân tháp, tôi thấy các bạn tôi đang ngẩng mặt lên, vẫy tay với gọi tôi xuống. Một người trong bọn họ mà tôi mới gặp ở Sơn Tây là bạn học cũ, hiện đang là thầy thuốc trong đội quân Lê dương. Người bạn dễ mến ấy thuộc đội quân đồn trú trong thành phố, anh rất vui được dẫn chúng tôi đi chơi trong vùng này. Chúng tôi đi rất khẩn trương vì ngày mai chúng tôi phải đi sớm, và như vậy chúng tôi chỉ có một nửa ngày còn lại.

Chúng tôi theo đường phố lớn đi thẳng ra sông. Những con tàu có thể ghé sát vào bờ sông, vì ở đoạn này nước sâu đến ba hoặc bốn mét. Đoàn công binh đã xây dựng cách bờ sông độ hai đến ba trăm mét một lô-cốt kiên cố, xi măng cốt thép có trang bị một khẩu pháo và một đội lính bản xứ Bắc kỳ.

Một con đê lớn có chiều rộng độ sáu hoặc bảy mét, bắt đầu từ bến tàu và dọc theo dòng nước về phía Nam: đó là đê Phù Sa. Chúng tôi đi theo con đê này đến tận cái làng nổi tiếng gan góc đã cản đường quân đội của chúng ta suốt cả một đêm, và để chiếm được nó đã phải hao tổn biết bao binh sĩ dũng cảm. Người bạn lính Lê-dương của chúng tôi đã tham gia những sự vụ ở Sơn Tây kể lại: “Các bạn thấy đấy, bắt đầu từ làng Phù Sa, về phía Hà Nội, con đê tách làm hai nhánh phụ, xuất phát tự một góc nhọn. Ngày 13 tháng 12 năm ngoái, đội quân của chúng tôi tiến thành hai cánh theo hai nhánh của chữ Y do con đê này tạo thành. Cả hai cánh đều chiếm được hai công sự nhỏ tiền tiêu chặn đường trên hai nhánh này mà không gặp phải sự chống cự nào, nhưng họ đã vấp phải tại điểm gặp nhau, ngay tại chỗ chúng ta đang đứng đây, một chiến luỹ vững chắc dựng lên bằng đất và tre, tại đây họ được tiếp đón bằng một đợt hỏa lực ác liệt nhất. Quân của chúng tôi chiến đấu suốt cả ngày mà không vượt qua được chiến luỹ này, và khi đêm đến, chúng tôi buộc phải rút lui về những nhánh đê phụ để ẩn náu vào những công sự đã chiếm được hồi sáng. Trong suốt cả đêm đó, chúng tôi vẫn phải đối phó với kẻ thù quyết bám giết, không chịu rời chúng tôi. Họ mò đến quấy rối ngay tại chiến tuyến của chúng tôi, họ lợi dụng bóng đêm để chặt đầu các chiến binh đã tử trận. Sáng hôm sau, họ rút khỏi chiến luỹ, nhưng thi thể của tất cả các chiến binh anh dũng của chúng ta đều bị biến dạng. Nếu trên chiến trường, quân Cờ Đen và những người Trung Quốc chặt đầu những người bị chết và bị thương như vậy, hoàn toàn không phải là để làm chiến lợi phẩm, mà vì mỗi cái đầu họ mang về đều được những người chỉ huy của họ trả giá rất cao. Tôi có ở đây một tài liệu chính thức, lấy được ở Sơn Tây, nó sẽ chứng minh với các bạn điều mà tôi nói”. Vừa nói, người bạn của chúng tôi vừa rút từ trong túi ra một tờ giấy to màu đỏ, đầy chữ Trung Quốc, phía dưới có đóng một con dấu to. Anh ta nói :”Con dấu này là con dấu của Chủ tướng quân Cờ Đen. Tờ giấy này đã được dán trên cửa thành có nội dung:

“Đề đốc Lưu Vĩnh Phước, ngày mười hai, tháng mười một cáo thị:

Trong chiến tranh, người nào chặt được đầu kẻ địch sẽ được thưởng như sau:

– Thưởng 100 lạng cho một đầu người Pháp, nếu người Pháp có cấp bậc, thưởng thêm 20 lạng cho mỗi cấp. Để biết được là người Pháp ấy có cấp bậc hay không, phải nhìn tay áo. Càng nhiều cấp, phần thưởng sẽ càng lớn.

– Một đầu lính An-giê-ri hoặc lính Lê-dương, 50 lạng.

– Một đầu lính bản xứ An-nam, 40 lạng.

– Một đầu người theo đạo Công giáo, 10 lạng.

Người bạn đồng nghiệp của chúng tôi nói thêm: “Cuộc chiến tranh đã hành xử chúng tôi không thương xót tại xứ sở này, đã tạo ra cho những người thầy thuốc chúng tôi những trách nhiệm mới. Chúng tôi buộc phải khẩn trương chuyển thương binh đi, phải tìm kiếm họ dưới những làn đạn, ngay cả trong những trận đánh giáp lá cà, bằng không, kẻ địch đến được chỗ họ, họ sẽ không còn lấy một hy vọng”.

Khi trở lại gần bến tàu, chúng tôi gặp hai con voi riêng của Tổng đốc Sơn Tây vừa mới được người quản tượng đưa xuống tắm dưới sông lên. Tôi chưa bao giờ trông thấy những con vật đẹp đến như vậy: một con có vòng vai rộng hơn hai mét rưỡi và có đôi ngà tuyệt đẹp. Chúng đã bị bắt trong vùng rừng Bắc kỳ giáp biên giới với Lào. Viên quan Tổng đốc này thường đi bằng voi cùng với đoàn tùy tùng khi ông ta đến dự những buổi lễ long trọng. Những lúc đó chúng được phủ gấm, vóc vàng son trên mình.

Hôm nay, trên chúng chỉ vẻn vẹn bộ yên cương với một đoạn xích dài quấn vòng qua thân phía sau của hai chân trước, giữ trên lưng chúng số thức ăn dự trữ mà chúng đi kiếm sau mỗi ngày. Người quản tượng cưỡi trên cổ con voi, hai chân đặt sang hai bên vào khoảng giữa tai và vai của con vật, tay cầm một cái móc nhọn có cán rất ngắn. Giữa trán con voi có một vết thương nhỏ, bằng cỡ đồng một phơ-răng (franc), người ta đã cố ý gây nên vết thương này và giữ không để nó liền vết, người quản tượng điều khiển con vật bằng cách lấy cái móc nhọn chạm vào vết thương đó.

Những con voi này rất dễ sai khiến. Để làm vui lòng chúng tôi, và cũng thầm mong được một món tiền thưởng hậu hĩ, những người quản tượng bắt chúng khuỵu gối trước mặt chúng tôi. Chúng tôi vứt những đồng tiền xuống đất, ngay lập tức những con vật ngoạm lấy bằng cách lấy vòi hít hít. Sau đó chúng ngoái lại đưa những đồng tiền qua vai cho chủ của nó, và vẫy vẫy tai tỏ vẻ hài lòng.

Không có gì thú vị hơn khi nhìn những con vật khổng lồ này đi qua những hàng rào tre bao quanh các ngôi nhà. Chúng đi vào mà không cần phải lấy sức cố gắng, chúng rẽ các bụi tre dày ra như một lưỡi rìu bập vào một mảnh gỗ mềm. Sau lưng chúng, hàng rào khép lại ngay, và sau đó ta phải tự hỏi là chúng đã đi qua bằng lối nào.

Voi của Tổng đốc Sơn Tây

Voi của Tổng đốc Sơn Tây (Nguồn: Une campagne au Tonkin, D.Hocquard.)

Không phải bao giờ những con vật to lớn này cũng tỏ ra dễ tính như vậy. Một con voi ở trong thành Hà Nội thù ghét người chủ của nó. Một hôm, khi anh ta mang thức ăn đến, nó đã dùng vòi quặp lấy anh ta, nâng lên và lắc thật mạnh, mặc cho anh ta cuống quýt kêu ầm ỹ, nó mang anh ta đến giữa một cái ao gần đó, ném xuống nước và điên cuồng dầy xéo lên anh ta. Khi đó người ta muốn bắn chết nó, nhưng những viên đạn cứ bật ra, không xuyên nổi lớp da dày của nó. Sau phải dùng đến súng Hotchkiss mới hạ được.

Trước khi từ biệt chúng tôi, anh bạn muốn đưa chúng tôi đi xem cửa Tây của Sơn Tây, đội quân Lê-dương đã qua cửa này trước tiên để vào thành phố. Cửa này gần như bị phá hủy hoàn toàn, nó đã được thay thế bằng một hình khối đồ sộ do công binh vội vã xây dựng sau khi đánh chiếm được thành phố để ngăn cản không cho người Trung Quốc tấn công trở lại. Đó là một cái bốt hình tháp xây bằng gạch có trổ ba hàng lỗ châu mai. Từ trên đỉnh tháp, có một lính bản xứ người Bắc kỳ núp dưới một cái mái canh được dựng trên bốn cái cọc để quan sát các hướng xung quanh. Những người lính khác của bốt này đang ở tầng trệt. Chúng tôi ghé vào thăm họ.

Những người lính bản xứ nằm trên giường tre xếp quanh phòng. Vài người ngồi xổm trong góc, xung quanh một cái mâm gỗ trên đó có khoảng một tá đĩa nhỏ. Họ đang ăn bữa cơm tối do các bà vợ của họ vừa mang đến. Những người lính bản xứ An-nam bao giờ cũng di chuyển cùng với vợ của họ. Ngay sau khi các bà vợ này biết được địa điểm đóng quân, họ đi trước đến ở trong một cái nhà lá và chuẩn bị cơm nước cho chồng, những ông chồng này khi đến nơi sẽ có cơm vừa chín tới và chỉ có việc ngồi ăn. Chúng tôi đã phải chấp nhận những tục lệ này nếu không sẽ không thể tuyển được một người An-nam nào phục vụ chúng tôi. Vả lại, các bà vợ những người lính bản xứ cũng không gây phiền phức gì, khi đại đội tập trung để xuất phát đến một nơi nào đó, họ biến đi trước, họ đi theo những con đường tắt, nhờ vậy họ đi theo kịp được đoàn quân mà chẳng ai biết. Đối với chúng tôi, có những lúc họ còn là những gián điệp tuyệt vời, có khả năng báo cho chúng tôi biết về những ý đồ của quân địch và những tình hình khả năng của các làng.

Chúng tôi rời khỏi Sơn Tây ngày tám tháng tư, vào lúc 6 giờ rưỡi sáng qua cửa Bắc, chính cửa này đã bị những chiến sĩ thủy quân lục chiến dũng cảm  tấn công, dưới sự chỉ huy của trung tá De Maussion. Đó là cái cửa duy nhất gần như còn nguyên vẹn. Với bức trán tường có những vành bằng tre, những phiến đá đen rêu phủ bị những mảnh pháo và những viên đạn rạch nát, cái cửa này có dáng oai nghiêm và dễ sợ của một người lính gác già bị tùng xẻo đến chết ở đây.

———
Trích dịch từ cuốn Une Campagne au Tonkin (Chiến dịch Bắc kỳ) của Docteur Hocquard do n.x.b Arléa tái bản năm 1999 tại Pháp.

[1] Để phân biệt rõ giữa hai tường thành, từ đây chúng tôi xin dùng từ thành nội để chỉ thành có tường xây bằng đá ong, còn nhiều di tích nằm chính giữa thị xã Sơn Tây bây giờ. Còn tường thành bằng đất được mô tả ở trên là thành luỹ cất lên để bảo vệ cả khu vực tỉnh lỵ mà người Pháp gọi là thành phố – chú thích người dịch.

(Theo Nguyễn Văn Trườnghttp://hoinhavanvietnam.vn)

Comments

comments

Về Người Sơn Tây

Những người con xứ Đoài...

Gửi trả lời

Email của bạn sẽ không được công bố. Mục yêu cầu đã được đánh dấu *

*
*

BÀI VIẾT KHÁC